Du lịch AZ

Lễ hội Đản Thánh Ba Làng ở Hưng yên

Xem kết quả: /  số bình chọn: 81
Bình thườngTuyệt vời 
Du lịch Tết giá rẻ
Làng Đản Thánh

Lễ hội và tín ngưỡng dân gian là nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần của mọi cộng đồng, mọi dân tộc, dù các cộng đồng và dân tộc đó có ở trình độ nào của sự tiến bộ xã hội. Trong đời sống văn hóa của người Việt mỗi lễ hội đều có những nét riêng biệt, độc đáo của từng làng xã nhưng vẫn mang những nét chung của cộng đồng góp phần làm phong phú thêm cho lễ hội truyền thống Việt Nam.Cũng như vậy, lễ hội Đản Thánh Ba Làng được cư dân ở đây tổ chức hàng năm (vào mùa xuân) với tất cả niềm tự hào, trân trọng và thiêng liêng của một vùng quê đồng bằng Bắc bộ.

Làng Ba Làng (bao gồm làng Vàng, làng Lê và làng Đừng) được hình thành từ lâu đời. Xưa kia, hai làng Vàng và làng Lê có tên gọi chung là Vương Xá trại, còn làng Đừng được gọi là Lan Cù khu, thuộc tổng Yên Xá - phủ Đường Hào (nay là xã Phan Đình Phùng, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên). Lịch sử của Ba Làng chứa đựng những sự tích mang tính huyền sử, huyền thoại, phản ánh những nét đẹp về văn hóa, phong tục của cư dân vùng này.Thần phả của làng còn lưu giữ được cho biết về vị thần được dân làng tôn thờ - đức Lãng Lôi như sau: Hùng Vương tuổi trời đã cao, mà hai mươi hoàng tử lần lượt theo cõi tổ tiên không người kế vị, nên nhường ngôi cho con rể là Sơn Thánh. Thục Phán thừa cơ bèn hợp trăm vạn quân, ba ngàn ngựa chiến, quân chia làm năm đạo, tụ tập nơi cửa biển cùng hợp với các đạo quân thủy, quân bộ rầm rộ tiến đánh. Thư cáo cấp ngày tới năm lần.
 
Hùng Vương rất lo lắng liền cho triệu Sơn Thánh đến hỏi mưu kế. Sau khi nghe tâu bày, Hùng Vương bèn đồng ý trao cho Sơn Thánh binh quyền tướng quân để điều khiển. Ngày hôm đó (11 tháng Tư), Sơn Thánh cầm quân tiến về đạo Hải Dương (xưa gọi là Hồng Châu), phủ Thượng Hồng. Đoàn quân đi  tới trại Lan Cù – Vương Xá (xưa thuộc huyện Cẩm Giàng) thì hạ trại, nghỉ trong miếu thần dưới gốc cây Dung Thụ (dân gian gọi là cây Chôi). Đêm ấy khoảng cuối canh tư đang mơ mơ màng màng, bỗng thấy một nhân thần mình người mặt hổ đi từ bên đường tới bảo rằng: “Ta vốn là con của Lạc Long Quân, được phong là Sơn Thần, hiệu ta là Lãng Lôi, nơi đây trời đất đặt bày, phương vị đã định, vua nào tôi ấy, ta tự nguyện làm âm phù xin theo đoàn quân dẹp giặc, sau này sẽ linh hiển ngôi vị phối hợp thần người”… Sơn Thánh tỉnh mộng, hiểu rõ linh thần ứng báo. Hôm sau, Sơn Thánh cất quân đánh giặc đã chiến thắng giòn dã.
 
Hùng Vương nghe chuyện bèn sai sứ sắc phong Lãng Lôi là: “Phù Quốc Tá Thánh Đại Thần” được hưởng lộc nước muôn đời, lại chuẩn y phong cho Vương Xá trại và Lan Cù khu trông nom bảo vệ, phụng sự tế tự hàng năm. Đến thời vua Đinh Tiên Hoàng đi dẹp mười hai sứ quân cũng có lần bị vây hãm ở đây, nhưng ngài cũng được âm phù giải vây cho. Vì thế mà từ đó cứ theo lệ sắc phong thêm ngôi vị, mỹ tự. Cư dân Ba Làng thờ đức Lãng Lôi - người trong giấc mộng của Tướng quân Sơn Thánh làm Thành hoàng làng; ngày 11 tháng Tư âm lịch là ngày Đản Thánh. Lễ hội được tiến hành song song cả hai phần lễ và hội.Lễ hội Đản Thánh Ba Làng bắt đầu bằng nghi lễ rước bài vị của Thành hoàng làng từ đình Nghè (đình trong làng) ra đình Thạt (đình ở ngoài làng, giữa cánh đồng). Đi trước là Long Đình, có bốn trai kiệu, tuổi không quy định, nhưng thường là thanh niên. Trang phục người đi rước mặc áo nậu có thêu diềm, đội nón chóp đỏ.
 
Long Đình sơn son, thiếp vàng rất đẹp, trên có bình hương, hoa quả, xôi, rượu, bánh dày. Đi thứ hai là Hương Án, đó là một chiếc bàn thờ to, đặt trên kiệu, có bốn người con trai khiêng. Trai kiệu Hương Án ăn mặc cũng giống trai kiệu rước Long Đình. Trên Hương Án cũng bầy đầy đủ oản quả, hương hoa. Đi thứ ba là Ngai. Ngai rước được phong bằng áo vóc, mũ cánh chuồn, đôi hia. Mũ, hia được chạm vàng ngọc lung linh, rực rỡ. Ngai được khiêng bằng đòn rồng, bát cống (gồm hai đòn cái, hai đòn giàng, bốn đòn con). Tám trai kiệu được tuyển chọn kỹ lưỡng, khoẻ mạnh, hạnh kiểm ưu và cũng đều vận áo nậu, đội mũ chóp đỏ. Đoàn nhạc rước có trống cái, thanh la và một dàn bát âm. Chiêng, trống đều được treo vào giá gỗ sơn son thiếp vàng. Mỗi cái có hai người phụ trách vừa di chuyển vừa gõ chiêng, đánh trống.
 
Người đánh trống hội phải giỏi, đánh được cả hai tay, càng đánh càng hăng, càng hăng càng hay. Thanh la là một nhạc cụ bằng đồng, to bằng cái đĩa đựng trầu, có dây buộc, một tay xách dây cao lên ngang mặt, một tay cầm dùi gõ vào cái núm thanh la. Những người cầm cờ và bát bảo (binh khí của Thành hoàng) thì dàn đều hai hàng dọc đi khắp từ đầu đến cuối đám rước. Mọi người đều mặc áo nậu, đội nón chóp đỏ. Đi bên dàn bát âm có hai cô gái mặc áo dài bằng lụa đỏ, chít khăn vấn, vừa đi vừa múa sênh tiền.Trong đám rước còn có phường chèo các nơi: Phường chèo Khuốc, phường chèo Cẩm Đường... Người phường chèo hoá trang, ăn mặc sắc phục nhà trò, vừa đi vừa diễn các tích Tam Quốc, Thuỷ Hử, Quan Âm Thị Kính, Kiều - Kim Trọng, Kiều Nguyệt Nga… Năm nào phong đăng hoà cốc (được mùa) làng làm hội to, có mời làng Da – làng bạn lân cận đến giao hảo. Đoàn rước bên Da cũng ăn mặc tề chỉnh, rước Long Đình sang cùng chung vui.   

Điều khiển đám rước là cụ Đám nhất, hoặc một ông Trưởng giáp do làng cắt lượt đến phiên. Người điều khiển mặc áo thụng xanh, đầu đội mũ tế, chân đi hia trông rất uy nghi, đĩnh đạc. Người điều khiển cầm trống khẩu có cán; cán và dùi trống đều sơn đỏ. Người điều khiển thường phải đi giật lùi để quan sát đám rước, nhất là những người khiêng kiệu. Người khiêng kiệu và đám rước phải hiểu và tuân theo tiếng trống lệnh. (Thí dụ: cắc một hồi dài là chú ý, tiếng trống thứ nhất là giơ tay lên vuốt má rồng - con rồng sơn khảm ở đòn kiệu; tiếng trống thứ hai và thứ ba là nhấc bổng kiệu lên và đổi vai…). Theo sau Ngai là các cụ bà đeo tràng hạt, tay cầm phướn, vừa đi vừa đọc kinh, vừa lần tràng hạt.Ba Làng có bốn giáp (tam thôn, tứ giáp): Giáp Vàng, giáp Lê, giáp trên, giáp dưới. Cũng vì vậy hàng năm hội làng diễn ra bốn ngày, mỗi giáp sẽ làm cỗ để thờ và tế đúng một ngày. Khi đám rước qua Lê, rồi qua Đừng các làng phải có món lễ “tế đón”.

Ngày rước, đêm hát. Các phường chèo Ba Làng đón về phục vụ rất nhiệt tình, thâu đêm suốt sáng. Trả công phường hát có hai cách: cách khoán và bỏ thẻ. Trả khoán đơn giản, gọn nhẹ; còn trả bằng cách bỏ thẻ là: làng có một người cầm chầu, đó là người danh giá nhất làng hoặc một chức sắc, cầm trống chầu đến câu nào hay, đoạn nào thích thì cắc một tiếng rồi bỏ thẻ vào vuông lụa, sau đếm thẻ tính tiền. Đoàn hát nào khi hát được nhiều thẻ ấy cũng là đoàn hát nổi tiếng. Riêng tối 15, cả ba làng cùng làm cỗ hát. Cung cách làm cỗ hát là nhà nào nhà nấy tự làm, sau đó mang ra thi, cúng gia tiên trên bệ riêng ở trong đình, rồi nhà nào nhà nấy ăn, vừa ăn vừa xem hát…   

Lễ hội Đản Thánh Ba Làng rất đông người tham gia, nhiều năm khách thập phương cùng dân quanh vùng kéo đến cả ngàn người. Ngày đầu đám là ngày rước ngai vị từ đình Nghè ra đình Thạt: Tế yên vị. Có năm, ngày rã đám (rước từ đình ngoài về đình trong) được kết thúc bằng tục múa chạy cờ. Điệu múa này theo một số bậc cao niên trong làng cho biết, là nhằm nhắc lại sự tích Sơn Thánh thắng trận trở về. Khi lễ Tế hoàn cung sắp kết thúc thì tiếng thanh la, tiếng mõ cùng tiếng la hét nổi lên dồn dập, oai hùng. Trước cổng đình kéo lên một lá cờ đại ngũ sắc. Một đoàn người được phân công sẵn: người cờ, người kích, kẻ xà mâu, mác, chuỳ, đao, kiếm, mã tấu… mỗi người một thứ chia làm hai tốp chạy theo hai hướng (bên phải, bên trái) trước cửa đình. Đoàn quân rầm rập vác khí giới chạy vòng qua cánh đồng trước cửa, vòng quanh chừng ba, bốn trăm mét thì quay mặt hướng vào nhau, tiến tới. Khi giáp lá cà hai bên múa những động tác như giao chiến. Họ cầm các thứ vũ khí múa chéo vào nhau nhiều lần rồi tiếp tục chạy về đình trong theo một đường vòng khép kín.
 
Lúc đó từ cổng đình lại vang lên dồn dập tiếng trống liên hồi, tiếng nhạc, tiếng hò reo cổ vũ hai đội quân của đám đông đang đứng trước cổng đình và hai bên đường.Như thế, lễ hội Ba Làng được tiến hành vừa nghiêm cẩn, linh thiêng, vừa rộn ràng phấn chấn. Sau bốn ngày, lễ hội kết thúc. Người dân của thôn Ba Làng lại phấn chấn bước vào một mùa làm ăn mới với niềm mong ước “nhân khang vật thịnh” hơn năm trước, tới xuân năm sau, hội làng lại tiếp diễn.Cũng như mọi miền quê khác, lễ hội Ba Làng được tổ chức nhằm hướng tới, tri ân tổ tiên, các vị anh hùng dân tộc, những người đã có công dựng làng, giữ nước. Đây là một trong những di sản văn hóa phi vật thể của nhân dân Hưng Yên và vùng đồng bằng Bắc bộ rất đáng trân trọng. Ở đó kết tinh những giá trị tinh thần cao quý của cư dân vùng đất này. Ẩn chứa trong đó là tính thân thiện, lòng nhân ái, tình yêu thương đùm bọc nhau qua mỗi bước thăng trầm của lịch sử. Trên hết là niềm tự hào về quê hương giàu tính nhân văn, giàu lòng yêu nước đang được phát huy cho đến tận ngày nay.       
 
Share